Khám hệ vận động mà trọng tâm là khám chấn thương gồm khám toàn thân, khám tại chỗ theo trình tự nhìn, sờ nắn, gõ, đo. 



I. CHUẨN BỊ
1. Phòng khám
- Đủ rộng, đủ ánh sáng, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.
- Có bàn, ghế cho thầy thuốc làm việc, có giường cho người bệnh nằm.
2. Thầy thuốc
- Tác phong gọn gàng, mặc áo, đội mũ công tác.
- Thái độ ân cần, niềm nở, đúng mực, tạo niềm tin cho người bệnh.
3. Dụng cụ
- Th­ước dây.
- Bút phớt.
- Ống nghe.
- Huyết áp kế.
- Nhiệt kế y học.
- Đồng hồ có kim giây.
- Kim tù đầu.
- Búa phản xạ.
4. Người bệnh
- Giải thích để người bệnh yên tâm, phối hợp với thầy thuốc trong quá trình khám. Bộc lộ quần, áo đủ rộng để khám.
- Nếu khám là người khác giới trong phòng có người thứ ba.
II. KHÁM BỆNH
1. Khám toàn thân
a) Mục đích:
+ Phát hiện sốc chấn thương.
+ Phát hiện tổn thương phối hợp.
b) Cách khám:
+ Khám da, niêm mạc: quan sát da niêm mạc, sờ ngọn chi.
+ Đo nhiệt độ, đo huyết áp, đếm nhịp thở, đếm mạch.
+ Khám tổn thương phối hợp: quan sát, sờ nắn, kết hợp hỏi bệnh nhân.
c) Nhận định:
+ Trường hợp sốc chấn thương sẽ biểu hiện: da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, vẻ mặt lo âu hốt hoảng, vã mồ hôi, chân tay lạnh, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt.
+ Tổn thương phối hợp: sẽ biểu hiện triệu chứng tại cơ quan tổn thương.
2. Khám tại chỗ chi trên
a) Nhìn
* Mục đích:
+ Nhìn tư thế, dáng điệu người bệnh để định hướng vùng tổn thương.
+ Nhìn tại chỗ chấn thương để phát hiện các dấu hiệu của gãy xương hoặc sai khớp, vết thương phần mềm.
* Cách nhìn: Nhìn thẳng, nghiêng; nhìn theo trình tự từ trên xuống; nhìn cả hai bên chi thể để so sánh.
* Nhận định:
+ Tư thế, dáng điệu: chấn thương chi trên người bệnh thường có tư thế đầu nghiêng về bên chấn thương, vai bên tổn thương thấp hơn vai lành, tay lành đỡ tay đau.
+ Tại chỗ:
- Gãy xương: có thể thấy sưng nề, bầm tím, biến dạng chi thể (lệch trục, dài - ngắn, quai lồi, cong vẹo), nhìn thấy đầu xương gãy.
+ Nếu có vết thương cần mô tả: vị trí, kích thước, dị vật, máu tụ.....
+ Sai khớp: chi thể ở tư thế bắt buộc, biến dạng khớp…
b) Sờ nắn
* Mục đích: Tìm triệu chứng chẩn đoán gãy xương.
* Cách sờ:
+ Tìm điểm đau chói cố định: một tay thầy thuốc cố định đầu trung tâm, tay còn lại dùng đầu mút ngón I sờ từ đầu ngoại vi hướng đến đầu trung tâm, sờ miết nhẹ theo kiểu sâu đo dọc theo mặt xương sát da. Vừa sờ vừa quan sát sắc mặt người bệnh, khi người bệnh đau chói thì dừng lại và đánh dấu. Đổi tay để sờ từ đầu trung tâm ra đầu ngoại vi, nếu người bệnh vẫn đau chói tại điểm đánh dấu thì đó là điểm đau chói cố định.
+ Sờ tìm điểm đau chói cố định các xương:
- Xương cánh tay: sờ từ mỏm trên lồi cầu theo mặt ngoài cánh tay đến mấu động lớn và sờ ngược lại.
- Xương quay: sờ từ mỏm trâm quay theo mặt ngoài cẳng tay đến đài quay và sờ ngược lại.
- Xương trụ: sờ từ mỏm trâm trụ theo mặt sau cẳng tay đến mỏm khuỷu và sờ ngược lại.
+ Tìm sự mất tính liên tục của xương: kỹ thuật giống sờ tìm điểm đau chói cố định. Nếu gãy xương di lệch thấy đầu xương gồ lên dưới da hoặc cảm giác hẫng tay.
+ Dấu hiệu lạo xạo xương: là khi  ấn và day nhẹ vào ổ gãy, cảm giác hai đầu xương hoặc mảnh vỡ xương va chạm vào nhau gọi là dấu hiệu lạo xạo xương.
+ Dấu hiệu cử động bất thường: một tay cố định ở đầu trung tâm, một tay xoay nhẹ đầu ngoại vi, nếu gãy xương hoàn toàn đầu ngoại vi di chuyển nhưng đầu trung tâm không di chuyển.
* Nhận định:
- Khi gãy xương, sờ có điểm đau chói cố định, dấu hiệu lạo xạo xương, sự mất liên tục của thân xương, cử động bất thường.
 Chú ý: dấu hiệu lạo xạo xương và cử động bất thường là hai triệu chứng có giá trị trong chẩn đoán gãy xương, nhưng không nên cố tình thăm khám để chẩn đoán vì dễ gây đau đớn và tổn thương thứ phát.
c) Gõ
* Mục đích: tìm vị trí gãy xương thông qua điểm đau chói.
* Cách khám:
+ Một tay thầy thuốc giữ cẳng tay người bệnh sao cho vuông góc với cánh tay, tay còn lại dùng ô mô út gõ nhẹ với cường độ tăng dần vào khuỷu tay người bệnh hướng dồn lên trên đồng thời quan sát sắc mặt và hỏi người bệnh. Nếu người bệnh đau yêu cầu người bệnh dùng một ngón tay chỉ vào vị trí đau.
+ Người bệnh tay duỗi thẳng, thầy thuốc tay không thuận giữ cho bàn tay vuông góc với cẳng tay, dùng ô mô út tay thuận gõ nhẹ vào gốc bàn tay người bệnh,với cường độ tăng dần hướng dồn lên trên, đồng thời quan sát sắc mặt và hỏi người bệnh. Nếu người bệnh đau yêu cầu người bệnh dùng một ngón tay chỉ vào vị trí đau.
* Nhận định: Nếu gãy xương gõ dồn chi sẽ thấy điểm đau chói.
d) Đo
* Mục đích: xác định chiều dài xương, trục chi, chu vi chi.
* Xác định các mốc xương:
+ Khe khớp ức đòn: tận cùng đầu trong của xương đòn, dùng đầu mút ngón I sờ miết từ 1/3 trong xương đòn, từ ngoài vào trong có mốc nhô cao sau đó hẫng tay đó là khe khớp ức đòn.
+ Khe khớp cùng đòn: tận cùng đầu ngoài xương đòn,dùng đầu mút ngón I sờ miết từ 1/3 ngoài xương đòn, từ trong ra ngoài có mốc nhô cao sau đó hẫng tay đó là khe khớp cùng đòn.
+ Mỏm cùng vai: dùng ngón II,III,IV đặt lên gai vai sờ từ trong ra ngoài, từ sau ra trước có một mốc xương nhô cao đó là mỏm cùng vai.
+ Mỏm quạ: đặt ngón I vào rãnh Delta - ngựcsờ từ dưới lên trên thấy một mốc xương nhô cao đó là mỏm quạ.
+ Mấu động lớn: từ 1/3 trên mặt ngoài cánh tay, sờ theo xương cánh tay từ dưới lên thấy một mốc xương tròn to đó là mấu động lớn.
+ Mỏm trên lồi cầu: từ 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay, sờ theo xương cánh tay từ trên xuống sẽ thấy một mốc xương nhô cao đó là mỏm trên lồi cầu.
+ Mỏm trên ròng rọc: từ 1/3 dưới mặt trong cánh tay, sờ theo xương cánh tay từ trênxuống dưới sẽ thấy một mốc xương nhô cao đó là mỏm trên ròng rọc.
+ Mỏm khuỷu: từ 1/3 trên mặt sau cẳng tay, sờ theo xương trụ từ dưới lên trên đến tận cùng xương trụ là mỏm khuỷu.
+ Đài quay: từ 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay, sờ theo xương quay từ dưới lên trên có một mốc xương nhô lên đó là đài quay.
+ Mỏm trâm quay: từ 1/3 dưới mặt trước ngoài cẳng tay, sờ theo xương quay từ trên xuống dưới có một mốc xương nhô lên sau đó hẫng tay là mỏm trâm quay.
+ Mỏm trâm trụ: từ 1/3 dưới mặt sau cẳng tay, sờ theo xương trụ từ trên xuống có một mốc xương nhô lên sau đó hẫng tay là mỏm trâm trụ.
* Đo chiều dài tuyệt đối của xương:
+ Đo chiều dài tuyệt đối của xương đòn: mốc thứ nhất khe khớp ức đòn, mốc thứ hai là khe khớp cùng đòn.
+ Đo chiều dài tuyệt đối xương cánh tay: mốc thứ nhất là mấu động lớn, mốc thứ hai là mỏm trên lồi cầu.
+ Đo chiều dài tuyệt đốixương quay: mốc thứ nhất là đài quay, mốc thứ hai là mỏm trâm quay.
+ Đo chiều dài tuyệt đốixương trụ: mốc thứ nhất là mỏm khuỷu, mốc thứ hai là mỏm trâm trụ.
* Đo chiều dài tương đối của xương:
+ Đo chiều dài tương đối của xương đòn: mốc thứ nhất khe khớp ức đòn, mốc thứ hai là mỏm cùng vai.
+ Đo chiều dài tương đối của xương cánh tay: mốc thứ nhất là mỏm cùng vai, mốc thứ hai là mỏm trên lồi cầu.
+ Đo chiều dài tương đối của xương quay: mốc thứ nhất là mỏm trên lồi cầu, mốc thứ hai là mỏm trâm quay.
+ Đo chiều dài tương đối của xương trụ: mốc thứ nhất là mỏm trên ròng rọc, mốc thứ hai là mỏm trâm trụ hoặc mốc thứ nhất mỏm trâm trụ mốc thứ hai mỏm trên lồi cầu.
* Nhận định:
- Khi gãy xương có di lệch chiều dài tuyệt đối và chiều dài tương đối thay đổi.
- Khi sai khớp chiều dài tương đối thay đổi còn chiều dài tuyệt đối không thay đổi.
* Xác định trục chi trên:
+ Trục thẳng,trục nghiêng:
- Trục thẳng: tư thế tay dạng 900, bàn tay ngửa, mốc thứ nhất là mỏm quạ, mốc thứ hai là đốt 2 ngón III. Bình thường trục thẳng chi trên đi qua chính giữa nếp gấp khuỷu.
- Trục nghiêng: tư thế tay duỗi và áp sát vào thân người, gan bàn tay hướng ra phía trước. Mốc thứ nhất là mỏm cùng vai, mốc thứ hai là bờ ngoài đốt 2 ngón II. Bình thường trục nghiêng chi trên đi qua đài quay.
+ Nhận định: Khi gãy xương có di lệch và sai khớp trục chi thay đổi.
* Đo chu vi:
+ Mục đích: Đánh giá mức độ sưng nề sau chấn thương hay teo sau điều trị.
+ Cách đo: Xác định vị trí đo, vòng thước dây đo, so sánh với bên lành.
+ Nhận định: Sau chấn thương có sưng nề thường chu vi bên bệnh lớn hơn bên lành, sau điều trị thường teo chi, chu vi nhỏ hơn bên lành.
* Khám khớp vai
+ Nhìn: thấy vai bên sai khớp sưng nề, biến dạng.
+ Sờ: thấy chỏm xương cánh tay nằm ở rãnh Delta - ngực, ổ chảo rỗng, dấu hiệu bật lò xo (+).         
+ Đo:
- Chiều dài tương đối xương cánh tay thay đổi so với bên lành.
- Trục thẳng, trục nghiêng chi trên bên sai khớp thay đổi.
3. Khám tại chỗ chi dưới
a) Nhìn
* Mục đích:
+ Nhìn tư thế, dáng điệu người bệnh để định hướng vùng tổn thương.
+ Nhìn tại chỗ chấn thương để phát hiện các dấu hiệu gãy xương, sai khớp, vết thương phần mềm...
* Cách nhìn: Nhìn thẳng, nghiêng; nhìn theo trình tự từ trên xuống; nhìn cả hai bên chi thể để so sánh.
* Nhận định:
+ Tư thế, dáng điệu: chấn thương chi dưới người bệnh thường có tư thế đi cà nhắc, nằm bàn chân bị tổn thương đổ sát mặt giường.
+ Tại chỗ có thể thấy sưng nề, bầm tím, biến dạng chi thể (dài - ngắn, quai lồi, cong vẹo), nhìn thấy đầu xương gẫy
+ Nếu có vết thương cần mô tả: vị trí, kích thước, dị vật, máu tụ.....
+ Sai khớp: chi thể ở tư thế bắt buộc, chỏm xương ở vị trí bất thường.
b) Sờ
* Mục đích: Tìm triệu chứng gãy xương.
* Cách sờ:
+ Tìm điểm đau chói cố định: một tay thầy thuốc cố định đầu trung tâm, tay còn lại dùng đầu mút ngón I sờ từ đầu ngoại vi hướng đến đầu trung tâm, sờ miết nhẹ theo kiểu sâu đo dọc theo mặt xương sát da. Vừa sờ vừa quan sát sắc mặt người bệnh, khi người bệnh đau chói thì dừng lại và đánh dấu. Đổi tay để sờ từ đầu trung tâm ra đầu ngoại vi, nếu người bệnh vẫn đau chói tại điểm đánh dấu thì đó là điểm đau chói cố định.
+ Sờ tìm điểm đau chói cố định các xương:
- Xương đùi: sờ từ lồi cầu ngoài theo mặt ngoài đùi đến mấu chuyển lớn và sờ ngược lại.
- Xương chày: sờ từ mắt cá trong theo mặt trong cẳng chân, lên trên ra trước đến lồi củ trước xương chày và sờ ngược lại.
- Xương mác: sờ từ mắt cá ngoài theo mặt ngoài cẳng chân lên trên đến chỏm xương mác và sờ ngược lại.
+ Tìm sự mất tính liên tục của xương: kỹ thuật giống sờ tìm điểm đau chói cố định. Nếu gãy xương di lệch thấy đầu xương gồ lên dưới da hoặc cảm giác hẫng tay.
+ Dấu hiệu lạo xạo xương: là khi  ấn và day nhẹ vào ổ gãy, thấy tiếng lạo xạo cảm nhận qua đầu ngón tay do hai đầu xương gãy hoặc mảnh xương vỡ va chạm vào nhau.
+ Dấu hiệu cử động bất thường: là khi một tay cố định ở đầu trung tâm, một tay xoay nhẹ đầu ngoại vi,nếu gãy xương hoàn toàn đầu ngoại vi di chuyển nhưng đầu trung tâm không di chuyển.
* Nhận định: Nếu gãy xương sờ có điểm đau chói cố định, dấu hiệu lạo xạo xương, sự mất liên tục của thân xương, cử động bất thường.
 Chú ý: dấu hiệu lạo xạo xương và cử động bất thường là hai triệu chứng có giá trị trong chẩn đoán gãy xương, nhưng không nên cố tình thăm khám để chẩn đoán vì dễ gây đau đớn và tổn thương thứ phát.
c) Gõ
* Mục đích: tìm vị trí gãy xương thông qua điểm đau chói cố định.
* Cách khám: Người bệnh chân duỗi thẳng, thầy thuốc tay không thuận giữ cho bàn chân vuông góc với cẳng chân, dùng ô mô út tay thuận gõ nhẹ vào gót bàn chânngười bệnh,với cường độ tăng dần hướng dồn lên trên, đồng thời quan sát sắc mặt và hỏi người bệnh. Nếu người bệnh đau yêu cầu người bệnh dùng một ngón tay chỉ vào vị trí đau.
*Nhận định: Nếu gãy xương gõ dồn chi sẽ thấy điểm đau chói.
d) Đo
* Mục đích: xác định chiều dài xương, trục chi, chu vi.
* Xác định các mốc xương:
+ Gai chậu trước trên: vuốt dọc mào chậu từ sau ra trước, từ trên xuống dưới khi nào thấy điểm nhô cao nhất, sau đó hẫng tay thì điểm nhô cao nhất đó chính là gai chậu trước trên.
+ Mấu chuyển lớn: từ 1/3 trên mặt ngoài đùi, sờ theo xương đùi từ dưới lên thấy một mốc xương cao nhất đó là mấu chuyển lớn.
+ Lồi cầu ngoài xương đùi: từ 1/3 dưới mặt ngoài đùi, sờ theo xương đùi từ trên xuống sẽ thấy một mốc xương nhô cao nhất đó là lồi cầu ngoài.
+ Lồi cầu trong xương đùi: từ 1/3 dưới mặt trong đùi, sờ theo xương đùi từ trên xuống dưới sẽ thấy một mốc xương nhô cao nhất đó là lồi cầu trong.
+ Lồi củ trước xương chày: vuốt dọc mào chày từ giữa xương chày lên trên, khi thấy điểm nhô cao nhất đó là lồi củ trước xương chày.
+ Chỏm xương mác: từ 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng chân, sờ theo xương mác từ dưới lên trên có một điểm nhô cao nhất đó là chỏm xương mác.
+ Mắt cá ngoài: từ 1/3 dưới mặt trước ngoài cẳng chân, sờ theo xương mác từ trên xuống dưới có một điểm nhô cao nhấtđó là mắt cá ngoài.
+ Mắt cá trong: từ 1/3 dưới mặt trong cẳng chân, sờ theo xương chày từ trên xuống có một điểm nhô cao nhất đó là mắt cá trong.
* Đo chiều dài tuyệt đối của xương:
Chiều dài tuyệt đối là đo độ dài giữa hai mốc xương ở hai đầu trên cùng một thân xương
 + Đo chiều dài tuyệt đối của xương đùi: mốc thứ nhất mấu chuyển lớn, mốc thứ hai là lồi cầu ngoài.
+ Đo chiều dài tuyệt đốixương chày: mốc thứ nhất là lồi củ trước xương chày, mốc thứ hai là mắt cá trong.
+ Đo chiều dài tuyệt đối xương mác: mốc thứ nhất là chỏm xương mác, mốc thứ hai là mắt cá ngoài.
* Đo chiều dài tương đối của xương:
Chiều dài tương đối là đo độ dài giữa hai mốc xương ở hai thân xương khác nhau qua một khe khớp:
+ Đo chiều dài tương đối của xương đùi: mốc thứ nhất gai chậu trước trên, mốc thứ hai là lồi cầu ngoài.
+ Đo chiều dài tương đối của xương chày: mốc thứ nhất là lồi cầu trong, mốc thứ hai là mắt cá trong.
+ Đo chiều dài tương đối của xương mác: mốc thứ nhất là lồi cầu ngoài, mốc thứ hai là mắt cá ngoài.
* Nhận định:
+ Khi gãy xương có di lệch chiều dài tuyệt đối và chiều dài tương đối thay đổi.
+ Khi sai khớp chiều dài tương đối thay đổi còn chiều dài tuyệt đối không thay đổi.
* Xác định trục chi dưới:
+ Cách xác định :
- Trục thẳng:tư thế chân duỗi thẳng, mốc thứ nhất là gai chậu trước trên, mốc thứ hai là khe giữa hai ngón 1 và 2. Bình thường trục thẳng chi dưới đi qua bờ ngoài xương bánh chè.
- Trục nghiêng: tư thế chân duỗi thẳng, mốc thứ nhất là mấu chuyển lớn, mốc thứ hai là mắt cá ngoài. Bình thường trục nghiêng chi dưới đi qua chỏm xương mác.
+ Nhận định: Khi gãy xương có di lệch và sai khớp trục chi thay đổi.
* Đo chu vi:
+ Mục đích: đánh giá chu vi chi sau chấn thương hoặc sau điều trị.
+ Cách đo: Xác định vị trí đo, vòng thước dây đo, so sánh với bên lành.
+ Nhận định: Sau chấn thương có sưng nề thường chu vi bên bệnh lớn hơn bên lành, sau điều trị thường teo chi, chu vi nhỏ hơn bên lành.
* Khám khớp gối
+ Dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè: Người bệnh duỗi thẳng chân. Thầy thuốc một tay dồn dịch từ 1/3 dưới của đùi xuống cố định phía trên khớp gối. Tay còn lại dùng ngón một và ngón ba đặt hai bên khe khớp gối, ngón hai của bàn tay này đặt vuông góc vào chính giữa xương bánh chè ấn xuống, sau đó từ từ nhấc lên nhưng ngón tay không dời khỏi mặt da, nếu thấy xương bánh chè nổi lên theo tay là dấu hiệu dương tính, gặp trong tràn dịch khớp gối.
+ Dấu hiệu há khớp gối: Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng. Khám dây chằng bên trong. Thầy thuốc một tay nắm lấy mặt trong cổ chân người bệnh đẩy ra, tay còn lại đặt mặt ngoài khớp gối đẩy vào, lực đẩy nhẹ nhàng và tăng dần, quan sát khe khớp gối bên trong. Nếu thấy khe khớp há ra là dấu hiệu dương tính, gặp trong tổn thương dây chằng bên trong. Khám dây chằng bên ngoài, đổi tay, lực đẩy ngược lại.
+ Dấu hiệu ngăn kéo: Người bệnh nằm ngửa, đùi gấp 450, cẳng chân gấp 90 độ. Thầy thuốc ngồi chặn bàn chân bệnh nhân để cố định, tám ngón tay đặt phía sau trên cẳng chân, hai ngón cái đặt ở lồi củ trước xương chày, làm động tác đẩy mâm chày ra sau và kéo mâm chày ra trước. Nếu mâm chày bị nhô ra trước hoặc tụt ra sau trên 1cm là dấu hiệu ngăn kéo dương tính (ra trước là tổn thương dây chằng chéo trước, ra sau là biểu hiện tổn thương dây chằng chéo sau).