Trong thực hành lâm sàng, khi thăm khám hệ hô hấp đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm chắc kiến thức, thuần thục về kĩ năng mới có thể phát hiện được các triệu chứng, từ đó giúp cho chẩn đoán và điều trị bệnh.


I. CHUẨN BỊ
1. Phòng khám
- Phải đủ rộng, đủ ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
- Có giường cho bệnh nhân nằm hoặc ngồi, bàn ghế cho thầy thuốc làm việc.
2. Thầy thuốc
- Tác phong chững trạc, mặc áo công tác, đội mũ, đeo mạng.
- Thái độ ân cần, đúng mực tạo niềm tin cho bệnh nhân.
3. Dụng cụ
Ống nghe, đồng hồ có kim giây.
4. Bệnh nhân
- Ngồi 2 chân co, hai tay ôm gối, hoặc nằm ở tư thế thích hợp.
- Động viên giải thích cho bệnh nhân trước khi tiến hành thăm khám.
II. KHÁM BỆNH
1. Khám toàn thân
a) Mục đích: phát hiện các triệu chứng bệnh lý hệ hô hấp biểu hiện ở toàn thân.
b) Cách khám, nhận định:
+ Khám phát hiện khó thở
- Quan sát tư thế, dáng điệu bệnh nhân; quan sát hố trên đòn, các khoang gian sườn, cánh mũi; da, niêm mạc; đếm nhịp thở.
- Nếu khó thở: bệnh nhân phải ngồi dậy, há miệng để thở; tiếng nói đứt quảng; da niêm mạc tím tái; thay đổi tần số thở, biên độ thở.
+ Khám hạch:
- Sờ nắn tìm hạch nách, hố trên đòn, hạch cổ.
- Nếu có hạch chú ý: vị trí, số lượng, tính chất…
+ Khám tìm ngón dùi trống: nếu có ngón dùi trống thường gặp trong bệnh tim, phổi mạn tính.
+ Đo nhiệt độ, huyết áp, đếm mạch, nhịp thở giúp chẩn đoán bệnh hệ hô hấp.
2. Khám lồng ngực
a) Phân chia thành ngực
* Mục đích: để thuận tiện cho thăm khám và mô tả cơ quan bệnh lý.
* Cách phân chia.
+ Thành ngực sau.
- Kẻ 2 đường ngang: một đường qua hai điểm cao nhất của hai gai vai, một đường qua 2 điểm thấp nhất của 2 xương bả vai.
- Kẻ 3 đường dọc: một đường qua chính giữa cột sống và hai đường qua góc trong hai xương bả vai.
- Thành ngực sau được chia thành các vùng: vùng trên gai (trên vai) tương ứng với đỉnh phổi, vùng liên bả cột sống tương ứng với rốn phổi và vùng dưới vai tương ứng với đáy phổi.
+ Thành ngực bên: kẻ 3 đường thẳng.
- Đường nách trước: chạy dọc bờ trước hố nách xuống (trùng với bờ ngoài cơ ngực lớn).
- Đường nách giữa: chạy từ đỉnh hố nách xuống.
- Đường nách sau: chạy dọc bờ sau hố nách (trùng với bờ ngoài cơ lưng to).
+ Thành ngực trước.
- Đường chính giữa xương ức.
- Đường cạnh ức: đi từ khớp ức đòn, dọc bờ ngoài xương ức.
- Đường giữa đòn: đi từ điểm giữa xương đòn xuống.
- Thành ngực trước có hõm ức, hố trên đòn, các khoang liên sườn.
b) Nhìn
* Mục đích: quan sát lồng ngực, tần số thở và cử động thở.
* Cách nhìn:
- Nhìn thẳng.
- Nhìn nghiêng.
* Nhận định
+ Bình thường
- Lồng ngực cân đối, các khoang liên sườn tương đối cách đều, đường kính ngang của lồng ngực lớn hơn đường kính trước sau (tỷ lệ 2/1).
- Không có dấu hiệu rút lõm hố trên đòn, dưới đòn và các khoang liên sườn.
+ Bệnh lý
- Hình thái lồng ngực: lồng ngực có hình ngực gà gặp ở trẻ suy dinh dưỡng. Lưng gù, lệch do bẩm sinh, do lao cột sống. Lồng ngực mất cân xứng gặp trong u thành ngực, u phổi, tràn dịch, tràn khí, dày dính màng phổi hoặc xẹp phổi một bên. Lồng ngực hình thùng, khoang liên sườn giãn rộng trong khí phế thũng.
- Cử động thở: cử động thở ở một bên ngực giảm gặp trong viêm phổi thuỳ, u phổi…Các khoảng gian sườn kém di động: giãn phế nang, xẹp phổi, tràn dịch hoặc tràn khí màng phổi.
- Thành ngực: sưng nề, bầm tím, biến dạng lồng ngực do chấn thương, vết thương ngực.
c. Sờ
* Mục đích
+ Đánh giá tình trạng thành ngực: khung xương, khối u, trương lực cơ, điểm đau, tràn khí dưới da...
+ Đánh giá độ giãn của lồng ngực.
+ Đánh giá rung thanh.
* Cách khám rung thanh: thầy thuốc đứng đối diện lưng của người bệnh, áp hai bàn tay lên lồng ngực người bệnh ở các vị trí đối xứng, theo trình tự từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, yêu cầu người bệnh thở sâu đều và đếm “một”, “hai”, “ba” một cách to,chậm, đều; khi đó, thầy thuốc sẽ cảm nhận được rung thanh qua xúc giác gan bàn tay và so sánh hai bên.
* Nhận định
+ Rung thanh tăng gặp trong đông đặc nhu mô phổi: viêm phổi thùy, áp xe phổi giai đoạn đầu, ung thư phổi,..
+ Rung thanh giảm hoặc mất gặp trong xẹp phổi, tràn dịch khoang màng phổi, tràn khí khoang màng phổi.
c) Gõ
* Mục đích: để đánh giá độ vang của phổi, phát hiện vùng đục, vùng vang bất thường.
* Cách gõ gián tiếp:
- Tay không thuận làm nền áp sát lên thành ngực của bệnh nhân, ngón 3 đặt dọc theo các khoang liên sườn.
- Ngón III của tay thuận cong lại làm búa, dùng lực cổ tay gõ vào vị trí đốt II ngón III bàn tay làm nền.
- Có thể gõ nhịp đôi hoặc nhịp 3 (thông thường gõ nhịp đôi), gõ theo một trình tự từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài và đối xứng hai bên. Trong quá trình gõ chú ý so sánh âm sắc giữa 2 bên phổi.
* Nhận định
+ Bình thường: gõ phổi sẽ nghe thấy âm độ trong, đều hai phổi.
+ Bệnh lý:
- Gõ đục: tràn dịch màng phổi, đông đặc nhu mô phổi, u phổi.
- Gõ vang: gặp trong khí phế thũng, hen phế quản, tràn khí màng phổi.
d) Nghe
* Mục đích: nhận định tiếng rì rào phế nang, tiếng thở thanh khí quản; phát hiện tiếng ran, tiếng thổi bệnh lý.
* Cách nghe
- Áp sát loa nghe vào thành ngực của người bệnh, nghe theo trình tự từ trên xuống dưới và đối xứng hai bên như khi gõ, trong khi nghe có thể cho bệnh nhân ho, thở vào sâu để nghe các tiếng bất thường rõ hơn.
- Mỗi vị trí phải nghe tối thiểu hai nhịp thở trở lên mới chuyển sang vị trí khác để tránh bỏ sót triệu chứng.
* Nhận định
+ Bình thường: nghe được tiếng thở thanh khí phế quản và tiếng rì rào phế nang êm dịu.
+ Bệnh lý: nghe được tiếng ran, tiếng thổi, tiếng cọ màng phổi.