Thăm khám hệ tiết niệu trọng tâm là khám thận, niệu quản. Thăm khám đúng kỹ thuật có ý nghĩa giúp chẩn đoán bệnh.

I. CHUẨN BỊ
1. Phòng khám
- Đủ rộng, đủ ánh sáng, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.
- Có giường cho bệnh nhân nằm; bàn, ghế cho thầy thuốc làm việc.
2. Dụng cụ
- Ống nghe:   01 cái.
- Huyết áp:    01 cái.
- Nhiệt kế:     01 cái.
- Bút phớt:     01 cái.
- Thư­ớc dây:  01 cái.
3. Thầy thuốc
- Tác phong đĩnh đạc, mặc áo công tác, đội mũ, đeo mạng.
- Có thái độ đúng mực tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân.
 4. Bệnh nhân
- Nằm trên gi­ường, đầu kê gối mỏng, mặt quay sang bên đối diện, 2 chân hơi co
bộc lộ vùng bụng.
- Được động viên, giải thích trước khi khám; phối hợp với thầy thuốc
trong quá trình khám bệnh.
II. KHÁM BỆNH
1. Khám toàn thân
a) Khám da, niêm mạc.
+ Cách khám
- Khám niêm mạc mắt, môi, lưỡi.
- Khám da ở những vùng da mỏng, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời: mặt, ngực, bụng, mặt trong cánh tay, cẳng tay, gan bàn tay, đùi, cẳng chân…
- Khám dấu hiệu ấn lõm.
+ Nhận định:
- Phù: thường phù ở mặt, hai chân, trường hợp nặng phù toàn thân. Biểu hiện da căng, mất các nếp nhăn, các mốc, các hố tự nhiên, dấu hiệu ấn lõm dươmng tính.
- Thiếu máu: suy thận mạn thường có thiếu máu, biểu hiện da xanh, niêm mạc nhợt, mất gai lưỡi.
- Nhiễm khuẩn tiết niệu: môi khô, lưỡi bẩn.
b) Theo dõi dấu hiệu sinh tồn.
+ Đo mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở
+ Nhận định:
- Huyết áp thay đổi trong suy thận.
- Sốt gặp trong nhiễm khuẩn tiết niệu.
2. KHÁM THẬN
a) Nhìn
Hố thận căng gồ khi thận to, có khối u; sưng, bầm tím khi bị chấn thương…
b) Sờ thận
+ Sờ phát hiện thận to:
- Tư thế người bệnh nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng.
- Thầy thuốc ngồi bên phải hay bên trái tuỳ theo khám thận phải hay thận trái.
- Người bệnh nằm yên lặng, thở đều, mềm bụng, sờ lúc người bệnh thở ra vì khi đó các cơ mềm, dễ sờ.
- Dùng hai tay, một tay luồn xuống phía dưới, vùng hố thắt lưng, một tay đặt trên bụng phía đối diện, hai tay ép dần sát vào nhau.
- Bình thường không sờ thấy thận. Nếu thận to sẽ có cảm giác một khối chắc chạm giữa hai lòng bàn tay.
+ Khám dấu hiệu chạm thận.
- Tư thế người bệnh nằm ngửa, chân hơi co, thở đều.
- Thầy thuốc một bàn tay đặt vào vùng hố thắt lưng của bệnh nhân giữ nguyên, một tay đặt vào vùng mạng sườn - thắt lưng, đẩy xuống từng đợt.
- Nếu có một khối chắc chạm vào lòng bàn tay là dấu hiệu chạm thận là dương tính.
- Dấu hiệu chạm thận dường tính gặp trong thận to hoặc một tạng vùng mạn sườn thắt lưng to hoặc khối u.
+ Khám dấu hiệu bập bềnh thận:
- Tư thế người bệnh nằm ngửa, chân hơi co, thở đều.
- Thầy thuốc một tay đặt phía hố thắt lưng, một tay để trên bụng, vùng mạn sườn. Tay trên để yên, tay dưới dùng ngón tay ấn và hất mạnh lên, rồi làm ngược lại, tay dưới để yên, dùng đầu ngón tay trên đẩy xuống, làm khi người bệnh bắt đầu thở ra. Cần đẩy nhanh và hơi mạnh nếu đẩy chậm sẽ không có kết quả.
- Khi có khối chắc chạm vào lòng bàn tay là dấu hiệu dương tính.
- Dấu hiệu bập bềnh thận (+) gặp trong thận to hoặc một tạng vùng mạn sườn thắt lưng to hoặc khối u.
c. Gõ: Khám dấu hiệu rung thận:
- Bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng.
- Thầy thuốc đặt một bàn tay vào hố thận, dùng bờ bàn tay còn lại chặt vừa đủ mạnh lên tay làm nền.
- Nếu bệnh nhân có phản ứng tránh đau, kêu đau là dấu hiệu rung thận (+).
- Rung thận (+) gặp trong viêm quanh thận, viêm mủ thận, viêm thận, bể thận...
3. Xác định và ấn các điểm niệu quản
- Điểm niệu quản trên: giao điểm bờ ngoài cơ thẳng to với đường ngang rốn. Ấn điểm này bệnh nhân đau gặp trong sỏi niệu quản trên.
- Điểm niệu quản giữa: nối hai gai chậu tr­ướcc trên chia làm ba phần bằng nhau; điểm tiếp giáp 1/3 ngoài và 1/3 giữa là điểm niệu quản giữa. Khám điểm này bệnh nhân đau gặp trong sỏi niệu quản giữa.