Trong thực hành lâm sàng, khi thăm khám hệ tuần hoàn, đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm chắc kiến thức, thuần thục về kĩ năng mới có thể phát hiện được các triệu chứng, từ đó giúp cho chẩn đoán và điều trị bệnh.




I . CHUẨN BỊ                                            
1. Phòng khám
            Phòng khám phải đủ rộng, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, đủ ánh sáng, có giường cho bệnh nhân nằm, bàn ghế cho thầy thuốc làm việc.
2. Dụng cụ
- Ống nghe.
- Đồng hồ có kim giây.
3. Thầy thuốc
- Tư thế, tác phong, thái độ đúng mực tạo được niềm tin cho bệnh nhân.
- Mặc quần áo công tác, đội mũ, đeo mạng đúng quy định.
4. Bệnh nhân
- Nằm ngửa trên giư­ờng, đầu kê gối mỏng, hai chân hơi co.
- Được động viên, giải thích trư­ớc khi tiến hành thăm khám.
II. KHÁM BỆNH
1. Khám toàn thân
a) Mục đích: phát hiện các triệu chứng bệnh lý tim mạch biểu hiện ở toàn thân.
b) Cách khám, kết quả
+ Đánh giá thể trạng bệnh nhân:
- Dựa vào chỉ số BMI: bình thường chỉ số BMI từ 18 – 23. Nếu dưới 18 là gầy, trên 23 là béo.
- Người béo có thể gặp vữa xơ mạch máu, mắc các bệnh van tim,tim bẩm sinh thể trạng thường nhỏ bé.
+ Khám phát hiện khó thở:
- Quan sát tư thế, dáng điệu của bệnh nhân, hố trên đòn, các khoang gian sườn, niêm mạc môi, đầu ngón tay, ngón chân.
- Nếu khó thở: bệnh nhân thường ngồi để thở; rút lõm hố trên đòn, các khoang gian sườn; da niêm mạc tím tái.
+ Khám phù:
- Quan sát các nếp nhăn tự nhiên, các hố, các mốc tự nhiên; làm dấu hiệu ấn lõm.
- Nếu phù: da căng bóng; mất các nếp nhăn, các mốc, các hố tự nhiên; dấu hiệu ấn lõm dương tính. Phù trong bệnh lý tim mạch thường phù tím, mềm, ấn lõm, phù chi dưới trước.
+ Khám dấu hiệu phản hồi gan – tĩnh mạch cổ:
- Bệnh nhân nằm ngữa, hai chân hơi co, mặt quay sang bên đối diện. Thầy thuốc đặt tay dưới vùng hạ sườn phải ấn xuống giữ nguyên khoảng 10 giây, quan sát tĩnh mạch cổ.
- Nếu tĩnh mạch cổ nổi rõ, khi thả tay ra đột ngột, tĩnh mạch cổ trở về bình thường. Dấu hiệu dương tính. Gặp trong suy tim phải.
+ Đếm mạch, nhịp thở, đo huyết áp.
2. Khám tim

a) Nhìn

+ Mục đích: đánh giá hình thái lồng ngực, xác định vị trí mỏm tim.
+ Cách nhìn: nhìn thẳng và nhìn nghiêng 450 so với lồng ngực.
+ Nhận định:
- Bình thường lồng ngực cân đối, mỏm tim ở khoang liên sườn V đường giữa đòn trái.
- Bệnh lý: gù, vẹo, biến dạng cột sống, lồng ngực dẫn đến bệnh tim phổi mãn tính.
- Mỏm tim đập thấp xuống dưới, ra ngoài trong suy tim trái; thấp xuống dưới và vào trong gặp trong suy tim phải.

b) Sờ

+ Mục đích: Xác định vị trí mỏm tim đập, phát hiện rung miu.
+ Cách sờ:
- Sờ xác định mỏm tim: áp lồng bàn tay lên vùng mỏm tim, cảm nhận.
- Sờ xác định rung miu: tay không thuận bắt mạch, tay thuận đặt vào vị trí van tim, cảm nhận. Có 3 cách sờ: sờ bằng lòng bàn tay, ô mô út, gan ngón giữa.
+ Nhận định:
- Bình thường: mỏm tim đập ở khoang liên sườn V đường giữa đòn trái, không có rung miu.
- Bệnh lý:
. Mỏm tim đập xuống dưới ra ngoài gặp trong suy tim trái; xuống dưới vào trong suy tim phải.
. Rung miu: dòng máu xoáy mạnh qua một chỗ, do tốc độ máu đi nhanh, xoáy qua chỗ hẹp làm rung các tổ chức van, thành tim, thành mạch lớn cho nên khi đặt tay vào thành ngực ở gần chỗ luồng máu qua chỗ hẹp ta sẽ thấy một cảm giác rung rung giống như khi đặt tay lên lưng mèo lúc nó rên. Cảm giác đó gọi là rung miu, gồm có rung miu tâm thu và rung miu tâm trương.
c. Gõ
          Thao tác gõ tim hiện nay ít được áp dụng trên lâm sàng.
d. Nghe
+ Mục đích nghe tim: Đánh giá tần số tim và tiếng tim
+ Cách sử dụng ống nghe:
- Trước khi nghe cần kiểm tra ống nghe bằng cách gõ nhẹ vào màng loa nghe và nghe thử.
- Đeo tai nghe: tai nghe phải hướng ra trước khi đeo (theo chiều ống tai).
+ Các vị trí nghe tim (5 vị trí nghe tim):
- Ổ van 2 lá: Khoang liên sư­ờn V đ­ường giữa đòn bên trái.
- Ổ van 3 lá: Sụn sư­ờn VI bên phải.
- Ổ van động mạch chủ: Khoang liên sư­ờn II cạnh bờ ức phải
- Ổ van động mạch phổi: Khoang liên sư­ờn II cạnh bờ ức trái
- Ổ Eck - Botkin (quai động mạch chủ): Khoang liên sư­ờn III cạnh bờ ức trái
+ Các tư thế nghe tim:
- Tư­ thế bệnh nhân nằm ngửa là tư thế khám thông thường nhất.
- T­ư thế bệnh nhân nằm nghiêng trái: Để nghe tiếng T1 ở mỏm tim rõ hơn.
- Tư­ thế bệnh nhân ngồi hơi cúi về trước: Để nghe tiếng T2 ở van động mạch chủ và van động mạch phổi rõ hơn.
+ Phương pháp nghe tim:
- Nghe theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ: ổ van 2 lá, ổ Eck - Botkin, ổ van động mạch phổi, ổ van động mạch chủ, ổ van 3 lá.
- Nghe theo hình sao: ổ van 2 lá, van động mạch chủ, ổ Eck – Botkin, ổ van 3 lá, ổ van động mạch phổi.
+ Chú ý khi nghe tim:
- Phải áp sát loa nghe lên da, đúng vị trí ổ van cần nghe, tránh nghiêng hay cử động loa nghe (để tránh các tạp âm và nghe rõ hơn).
- Khi nghe phải kết hợp bắt mạch để phân biệt thời kỳ tâm thu (tiếng T1, cùng thời điểm mạch nẩy) và thời kỳ tâm trương (tiếng T2, ở thời điểm mạch chìm).
- Khi nghi ngờ có tiếng bệnh lý, cần nghe kĩ, có thể làm nghiệm pháp gắng sức, thay đổi tư thế bệnh nhân rồi nghe lại.
+ Nhận định:
- Bình thường: ta nghe được 2 tiếng tim.
. Tiếng tim thứ nhất (T1): nghe trầm, dài, mạnh, đục, nghe như tiếng “pùm”, đồng thời với lúc mạch nẩy, do đóng van hai lá và ba lá.
. Tiếng thứ hai (T2): nghe cao, ngắn, rắn, thanh, nghe như tiếng “tặc”, đồng thời với lúc mạch chìm, do đóng các van tổ chim.
- Bệnh lý: thay đổi nhịp tim, thay đổi tần số tim, thay đổi tiếng tim hay xuất hiện các tiếng bệnh lý.
3. Khám mạch máu
          Chủ yếu là đếm mạch và đo huyết áp động mạch (đã học trong điều dưỡng cơ bản).